CÓ BAO NHIÊU HỆ TƯ TƯỞNG CHÍNH YẾU TRONG PHẬT GIÁO

hương-sạch-thiên-hương-sưu-tầm-hình-phật
hương-sạch-thiên-hương-sưu-tầm-hình-phật

16. Xin cho biết có bao nhiêu hệ tư tưởng chính yêu trong Phật Giáo

Câu hỏi này rất bao quát. Vì trên thực tế, trong đạo Phật có 2 phạm trù tư tưởng, tạm phân biệt như vậy. Thứ nhất là lịch sử tư tưởng, như các nhà Phật học đã phân định dựa theo các thời kỳ phát triển của lịch sử hay còn gọi là lịch sử phân kỳ Phật Giáo. Thứ hai là lịch sử tư tưởng các tông phái của Phật Giáo.

Đối với phạm trù thứ hai, từ lịch sử tư tưởng các tông phái trong Phật Giáo, bạn cần phải có thời gian để đi vào nghiên cứu từng tông phái một, chẳng hạn như Thiền tông, Tịnh độ tông, Thiên thai tông… Ví dụ, riêng nền phật học Trung Hoa có ít nhất mười tông phái khác nhau; và mỗi tông phái đều có tư tưởng và con đường tu tập chuyên biệt.

Đối với phạm trù thứ 1, tức lịch sử tư tưởng Phật giáo, chúng ta có thể chia thành hai hệ thống tư tưởng bao quát và xuyên suốt như sau: tư tưởng Phật giáo thời NGuyên Thuỷ và tư tưởng PHật giáo thời phát triển.

Tư tưởng phật giáo thời nguyên thuỷ được xây dựng trên nền tảng của giáo lý Duyên Khởi – Vô Ngã do chính Đức Phật dạy sau khi Ngài thành tựu quả vị giác ngộ tối hậu. Nôi dung chính của giáo lý này nói rằng, tất cả pháp có mặt trong 3 cõi (cõi dục, cõi sắc và vô sắc) đều là sản phẩm của nghỉn trùng nhân duyên. Chúng có  mặt theo thể thức vật lý như sinh thành, tồn tại, biến đổi và tan hoại (thành, trụ, hoại, không) hoặc theo thể thức tâm lý như dòng sinh khởi, hiện trụ, biến chuyển và đoạn diệt (sinh, trụ, dị, diệt) của tâm thức.

Cứ như thế các pháp thuộc về tâm lý và vật lý sinh và diêt tuỳ thuận vào các nhân duyên theo từng chi kỳ gọi là vòng luân hồi. Do vậy, những gì có mặt trong nguyên lý Duyên khởi này đều vô thường và không hề có một bản ngã cá biệt, hiện hữu một cách độc lập và vĩnh hằng. Đây là chân lý của thực tại mà Đức Phật bảo là “dầu như lai có xuất hiện hay không xuất hiện thì nó vẫn là như thế” Dựa vào nền tảng tư tưởng này, người Phật tử xây dựng một nhân sinh quan cho đời sống tu tập của chính mình, đấy là đời sống vô ngã giải thoát.

hương-sạch-thiên-hương-sưu-tầm-hình-phật
hương-sạch-thiên-hương-sưu-tầm-hình-phật

Tư tưởng Phật giáo thời phát triển bắt nguồn từ triết học Bát-Nhã của đại thừa và về sau được hình thành với hai hệ thống nổi bật đó là Trung quán và Duy thức. Cả hai hệ thống tư tưởng này đều có liên hệ chặt chẽ với giáo lý Duyên Khởi, hay nói khác đi, cả hai hệ tư tưởng nảy được xây dựng trên nền tảng của Duyên khởi. Tuy nhiên, mỗi hệ tư tưởng đều có các khái niệm và diễn giải đặc thù.

Tư tưởng Trung quán xuyển dương học thuyết về Tánh không, trong khi Duy thức nhấn mạnh đến khái niệm Tàng thức. Ở đây học thuyết về Tánh không nổ lực giải minh rằng tự tánh của các pháp là vô ngã, không có thực thể, chúng là sự tựu thành của nhiều nhân duyên. Do đó, khi thể nhập tánh không, hành giả đồng thời thể nhập thực tại vô ngã. Bạn nên nhớ rằng, khái niệm tánh vốn không phải là một phạm trù đối lập giữa có và không, trái lại chính nó là thực tại chân nguyên. Vì vậy, trong ngôn ngữ kinh điển của phật giáo phát triển tánh không là từ đồng nghĩa với Niết bàn.

Đối với triết học duy thức, khái niệm tàng thức, một học thuyết trọng yếu của hệ tư tưởng này, chỉ ra rằng tất cả khổ đau hay hạnh phúc đầu là sản phẩm của tâm phân biệt giữa ngã và pháp. Và sự phân biệt này là căn để của phiền não, sinh tử luân hồi. Do vậy, khi tu tập, hành giả phải rửa sạch mọi chấp thủ về tự ngã ( cái tôi, cái của tôi và cái tự ngã của tôi) để trở về với tâm thức thanh tịnh, bản nguyên vốn không phân biệt.

Từ đây, cho thấy rằng điểm nhất quán trong giáo lý của Phật Giáo, dầu nguyên thuỷ hay phát triển đều chú trọng đến việc gội sạch tâm tham ái và chấp thủ để đạt đến cảnh giới giải thoát thực tại, đấy là cảnh giới của thực tại Vô Ngã Niết-bàn.

 NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CHIA SẺ CÙNG QUÝ BẰNG HỮU

KHÁC NHAU CƠ BẢN TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI TU TẬP GIỮA NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG

KHÁC NHAU CƠ BẢN TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI TU TẬP GIỮA NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG
hình-phật-hương-sạch-thiên-hương-sưu-tầm
hình-phật-hương-sạch-thiên-hương-sưu-tầm

15. Kiểu mẫu lý tưởng cho đời sống của người tu tập giữa Nam tông và Bắc tông có khác nhau không

Đây là câu hỏi rất thú vị. Chúng ta biết rằng mẫu người lý tưởng đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành nhân cách và lối sống của mỗi con người, dù ở bất cứ lĩnh vực nào, tôn giáo hay không tôn giáo. Ở đây, mẫu người lý tưởng giữa Phật giáo Nguyên Thuỷ và Phật giáo Phát triển có khác nhau.

Trong Phật giáo Nguyên Thuỷ, mẫu người lý tưởng chính là hình ảnh của một bậc thánh a-la-hán, con người của sự rủ bỏ hết mọi cảm nhiễm ở đời, sống an lạc, tỉnh thức và tuỳ duyên hoá độ chúng sanh. Nhưng trong Phật giáo Phát triển, mẫu người lý tưởng là hình ảnh của một vị Bồ-tát, người mang lý tưởng độ tha trong suốt cuộc hành trình tu tập.

Ở đây, lý tưởng độ tha hay hoá độ các chúng hữu tình (nhiêu ích hữu tình) là trách nhiệm mà một vị Bồ-tát nguyện phụng hiến đời mình cho suốt cuộc hành trình tâm linh từ buổi sơ phát tâm (phát nguyện ban đầu) cho đến khi thành Phật. Do vậy, để thực hiện lý tưởng độ tha, một vị Bồ-Tát không ngừng tu tập  và phát triển trí tuệ và từ bi, vì trí tuệ và từ bi chính là sự nghiệp của một vị Bồ-Tát hay một vị Phật.

Và lại, để thực hiện lý tưởng độ tha của mình, một vị Bồ-Tát luôn phát nguyện đi vào thế gian, hiện muôn ngàn thân tường của thế gian để làm ích lợi cho thế gian. Đây là lý do mà phật giáo phát triển luôn hiện đại hoá con đường thể nhập vào đời sống thực tế để thực hiện lý tưởng độ tha.

Điều này, một cách nào đó, tạo nên sự khác biệt giữa các hình thức Phật giáo truyền thống và phát triển. Tuy nhiên, con đường thực hành của Bồ tát bao gồm các hạnh Ba-la-mật như đã đề cập trên đây vẫn mang tính chất truyền thống.

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CHIA SẺ CÙNG QUÝ BẰNG HỮU

CHI TIẾT VỀ TIẾN TRÌNH CỦA THẬP ĐỊA BỒ TÁT

CHI TIẾT VỀ TIẾN TRÌNH CỦA THẬP ĐỊA BỒ TÁT
bồ-tát
bồ-tát

14. XIN CHO BIẾT THÊM CHI TIẾT VỀ TIẾN TRÌNH CỦA THẬP ĐỊA BỒ TÁT?

Mười địa của Bồ Tát trong Phật Giáo Phát triển bao gồm:

– Hoan hỷ địa (an lạc khi vượt qua phiền não để bước vào Phật Đạo);

– Ly cấu địa ( trạng thái tâm thanh tịnh do trì giới và tu tập thiền định)

– Phát quang địa ( thanh tịnh 3 nghiệp và phát triển tuệ giác)

– Diệm huệ địa ( Tu tập tuệ giác vô phân biệt Bát nhã)

– Cực Nan thắng địa ( đoạn trừ vi tế phiền não, tu tập các giác chi)

– Hiện tiền địa (tuệ nhãn siệu việt nhị nguyên)

– Viễn hành địa ( đầy đủ phương tiện giáo hoá chúng sanh )

– Bất động địa ( đạt đến quả vị địa thối chuyển)

– Thiện huệ địa (trí tuệ viên mãn và đạt được mười thần lực)

– Pháp vân địa ( thành tựu phật trí, tự tại, giải thoát)

Hành giả tu tập 10 Ba-la-mật liên hệ đến 10 địa ở trên, bao gồm:

– Bố thí;

– Trì giới;

– Nhẫn nhục;

-Tinh tấn;

– Thiền định;

– Trí tuệ;

– Phương tiện thiện xảo;

– Nguyện;

– Lực;

– Trí

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CHIA SẺ CÙNG QUÝ BẰNG HỮU

SỰ KHÁC BIỆT TRONG TIẾN TRÌNH GIÁC NGỘ GIỮA NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG

SỰ KHÁC BIỆT TRONG TIẾN TRÌNH GIÁC NGỘ GIỮA NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG
Hương-sạch-Thiên-Hương-hình-Phật
Hương-sạch-Thiên-Hương-hình-Phật

13. Có sự khác biệt nào trong tiến trình giác ngộ giữa Nam tông và Bắc tông?

Theo truyền thống, tiến trình giác ngộ và giải thoát của một vị hành giả được cụ thể hoá qua bốn quả vị Thanh văn bao gồm: Tu-đà-hoàn, Tư-đa-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Đây là tiến trình giải thoát cụ thể, thông qua sự tu tập hành giả từng bước đoạn trừ các phiền não mà thuật ngữ Phật học gọi là 10 kiết sử bao gồm:

– Thân kiến (chấp vào tự ngã qua thân năm uẩn)

– Hoài nghi (nghi ngờ về các pháp học và pháp hành)

– Giới cấm thủ (chấp vào nghi lễ và cấm giới tà đạo)

– Dục (ham muốn của các giác quan)

– Sân ( nóng giận, sân si)

– Hữu ái (ước muốn hiện hữu vĩnh cửu, do chấp thường)

– Vô hữu ái (ước muốn biến thành hư vô, do chấp đoạn)

– Mạn ( ngã mạn)

– Trạo cử vi tế ( tâm dao động, bất an)

– Vô minh vi tế ( si mê u tối)

Do vậy, về mặt tu tập và giải thoát, không có sự khác biệt giữa Nam tông và Bắc tông. Dù khai niệm dùng để mô tả tiến trình này có thể khác nhau như mở rộng các quan niệm về cứu cánh và độ tha.

ví dụ như tiến trình của đại thừa Thập địa Bồ tát ( trong giáo lý phát triển), nhưng nội dung và tính chất giải thoát vẫn giống nhau. Có nghĩa là để được giác ngộ, giải thoát, hảnh giả trên căn bản đoạn trừ các phiền não như đã đề cập trong mười kiết sử

Tiến-trình-giải-thoát-trong-Phật-giáo
Tiến-trình-giải-thoát-trong-Phật-giáo

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CHIA SẺ CÙNG QUÝ BẰNG HỮU

 

VỀ HÌNH THỨC SINH HOẠT, NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO?

Hình-Phật-Hương-Sạch-Thiên-Hương
Hình-Phật-Hương-Sạch-Thiên-Hương

11. Ngoài Phật Giáo Nguyên thuỷ và Phát triển, sao còn gọi là Nam Tông và Bắc Tông?

Nam tông hay Bắc tông là tên gọi khác của Phật giáo Nguyên Thuỷ và Phật giáo Phát triển. Tuy nhiên, điểm đặc biệt của cách gọi này là nhằm chỉ vào phương sở truyền bá của hai truyền thống Phật Giáo.

Phật giáo Nam tông, tức hệ Nguyên thuỷ, được truyền bá sâu rộng sang các nước phía Nam của Ấn Độ như Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia….

Trong khi Phật Giáo Bắc tông, tức hệ Phát triển, lại được truyền bá sâu rộng sang các nước ở hướng Bắc của Ấn Độ gồm Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cổ, Tây Tạng, Việt Nam…

12. về hình thức sinh hoạt, Nam tông và Bắc tông khác nhau như thế nào?

Về hình thức, Nam Tông vẫn duy trì hình thức sinh hoạt căn bản theo đúng truyền thống ngay từ thời Đức Phật. Chư Tăng thuộc Nam tông vận y phục màu vàng, ăn ngày một bữa, tụng kinh bằng tiếng Pali…

Tuy nhiên, điểm đặc sắc của các nước Phật giáo Nam Tông là tăng sĩ vận y phục giống nhau và tụng kinh giống nhau (kinh tạng Pali), nên chư tăng ở các nước khác nhau vẫn có thể tụng kinh chung một cách hoà quyện và đồng đều.

Ngược lại, Bắc tông không duy trì hình thức sinh hoạt nguyên thuỷ. Các nước Phật giáo Bắc Tông tự điều chỉnh cách thức sinh hoạt căn bản trong đời sống tu tập hàng ngày dựa vào phong tục tập quán, văn hoá truyền thống và nhu cầu xã hội của mỗi nước.

Do đó, cách thức sinh hoạt của tăng ni theo Bắc tông không đồng nhất với nhau, tuỳ mỗi nước, mỗi ngôn ngữ và mỗi truyền thống văn hoá bản địa. Tăng ni theo Bắc tông, chẳng hạn, vận y phục có nhiều màu sắc và nhiều kiểu khác nhau; kinh điển thọ trì hằng ngày được chuyển dịch sang ngôn ngữ địa phương; ăn uống tuỳ theo sức khoẻ, có thể ăn nhiều bữa trong ngày.

Nói chung, Bắc tông vốn là mô thức Phật giáo phát triển, do vậy vẫn để thích ứng với xã hội trở thành yếu tố hàng đầu trong việc truyền bá.

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CHIA SẺ CÙNG QUÝ BẰNG HỮU

PHẬT GIÁO NGUYÊN THUỶ VÀ PHẬT GIÁO PHÁT TRIỂN KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO?

PHẬT GIÁO NGUYÊN THUỶ VÀ PHẬT GIÁO PHÁT TRIỂN KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO?
hình-phật-nhang-sạch-thiên-hương
hình-phật-nhang-hương-sạch

10. khác nhau giữa Phật Giáo Nguyên Thuỷ và Phật Giáo phát triển:

Có thể tóm tắt một số khác biệt căn bản như sau:

a. về ngôn ngữ: Phật giáo Nguyên Thuỷ dùng Kinh Tạng Pali (Nam Phạn) gồm các kinh Nikaya làm nền tảng tụ tập; trong khi đó, Phật ST0-075giáo Phát triển sử dụng các kinh Đại thừa thuộc ngữ hệ Sanskrit (Bắc Phạn), Hán ngữ, và Tây tạng ngữ làm nền tảng.

b. Về Tư tưởng: Phật giáo Nguyên Thuỷ lấy giáo lý Duyên Khởi làm trọng tâm; trong khi đó, Phật giáo Phát triển hình thành thêm hệ tư tưởng trung quán và Duy thức trên nền tảng của Duyên Khởi; và sau cùng là sự 1Y0-A17 ra đời của kinh cang thừa còn gọi là Mật Tông. Mặc dù vậy, tất cả hệ tư tưởng trên không hề mâu thuẫn nhau.

c. Về Phám môn tu tập: Phật giáo Nguyên GMAT-Verbal Thuỷ chuyên chú hành trì thiền định với các đề mục căn bản là Bốn niệm xứ (thân, thọ, tâm, pháp); trong khi phật giáo phát triển mở rộng thêm các hình thức tu tập theo nhiều tông phái, bao gồm: Thiền Tông,
000-998 Tịnh độ tông và Mật tông. Mỗi tông phái lại có nhiều pháp môn ứng dụng khác nhau.

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CHIA SẺ CÙNG QUÝ BẰNG HỮU

ĐẠI THỪA VÀ TIỂU THỪA TRONG ĐẠO PHẬT

ĐẠI THỪA VÀ TIỂU THỪA TRONG ĐẠO PHẬT
hình-phật-nhang-hương-sạch
hình-phật-nhang-hương-sạch

9. Nếu ngay từ đầu Đạo Phật đã thiết lập một con đường cho sự giác ngộ và giải thoát, vậy tại sao lại có khái niệm đại thừa và tiểu thừa?

Có 3 giai đoạn trong lịch sự Phật Giáo: Nguyên Thuỷ, Tiểu thừa và Đại thừa. Nguyên thuỷ được tính từ khi Đức Phật còn tại thế đến sau khi Ngài diệt độ khoảng 100 năm. Và tiếp theo đó là sự phát triển các hệ thống tư tưởng của Tiểu thừa và Đại Thừa. Nói chung, khái niệm Tiểu thừa (chiếc xe nhỏ) và Đại thừa (chiếc xe lớn) được hình thành trong quá trình phát triển lịch sử tư tưởng và triết học Phật giáo.

 Sự phát triển của hai trường phái chính này được mở rộng thành 18 bộ phái theo lịch sử Phật Giáo.  Tư tưởng của cả hai trường phái này đều dựa trên các giáo lý căn bản như Bốn chân lý, Duyên Khởi, và Vô Ngã. Mặc dù vậy, cả hai trường phái này đều có những quan niệm và giải thích khác nhau về phương diện tu tập bản thân và các mối liên hệ xã hội.

Lịch sử cho chúng ta biết rằng, khi xã hội ngày càng phát triển, thì ngôn ngữ, tư tưởng và cuộc sống thực tế cũng phát triển; đấy là lý do căn bản của sự phát sinh những kiến giải và quan niệm khác nhau của những người đệ tử Phật. Nhất là, khi Đức Phật đã diệt độ hàng trăm năm và những lời dạy chân chất của Ngài, theo thời gian, đã bị bao phủ lên một lớp áo lý luận và kiến giải theo những cách tân của xã hội.

Ngày nay, người học Phật thường dùng khái niệm Phật giáo Nguyên thuỷ và Phật giáo phát triển để nói đến những khác biệt trong các hình thức Phật giáo.

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CHIA SẺ CÙNG QUÝ BẰNG HỮU

PHẬT GIÁO CÓ THỂ ĐƯỢC XEM LÀ MỘT TÔN GIÁO KHOA HỌC HAY MỘT TRIẾT LÝ KHOA HỌC KHÔNG?

PHẬT GIÁO CÓ THỂ ĐƯỢC XEM LÀ MỘT TÔN GIÁO KHOA HỌC HAY MỘT TRIẾT LÝ KHOA HỌC KHÔNG?
hình-phật-nhang-sạch-thiên-hương
hình-phật-nhang-sạch-thiên-hương

8. Nếu phật giáo không phải là một tôn giáo thần quyền, vậy có thể xem Phật Giáo là mộtEC0-232 tôn giáo khoa học hay một triết lý khoa học không?

Gọi như thế nào là tuỳ ý thích mỗi người. Nhưng nên nhớ rằng, Phật Giáo từ khởi thuỷ không có mục đích lý giải hay chứng minh các vấn đề thuộc khoa học như những ngành khoa học hiện đại. Phật giáo không đặt vấn đề nghiên cứu khoa học lên hàng đầu, cũng không xu hướng theo các lý giải của khoa học, dù rằng những điều do Đức Phật giảng dạy bao giờ cũng rất khoa học.

Và sự thật là, khi khoa học càng phát triển, thì những tiến bộ của khoa học đã giúp ít rất nhiều trong việc giải minh các chủ đề tinh tế trong giáo lý của Đạo Phật, nhất là trong các lĩnh vực thuộc tâm – vật lý học (psychophysical). Có lẽ, đây là lý do mà ngày nay Phật Giáo được phát triển nhanh chóng trong các nước tiên tiến, đặc biệt
1Z1-520 là trong các trường đại học tai Châu Âu và Bắc Mỹ.

Vấn đề cốt tỷ của Phật Giáo, như được trình bày trong bốn chân lý, là nhận diện nguyên nhân của khổ đau để chuyển hoá khổ đau thành an lạc, giải thoát. Trên thực tế, Phật Giáo thường được gọi là tôn giáo của trí tuệ, như phương chân ” Duy tuệ thị nghiệp” (lấy trí tuệ làm sự nghiệp).

Mặc dù vậy, Phật Giáo chủ trương trí tuệ và tâm đại bi phải luôn đi đôi với nhau. Do đó, nói cho đầy đủ, sự nghiệp của một vị Phật hay một vị Bồ-Tát bao giờ cũng là trí tuệ và tâm đại bi.

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CHIA SẺ CÙNG QUÝ BẰNG HỮU

PHẬT GIÁO LÀ TÔN GIÁO HAY TRIẾT HỌC? TRIẾT LÝ CĂN BẢN CỦA PHẬT GIÁO LÀ GÌ?

PHẬT GIÁO LÀ TÔN GIÁO HAY TRIẾT HỌC? TRIẾT LÝ CĂN BẢN CỦA PHẬT GIÁO LÀ GÌ?
hình-phật-nhang-sạch-thiên-hương
hình-phật-nhang-sạch-thiên-hương

Chào bạn!

Chúng ta cùng tìm hiểu câu hỏi 6 nhé.

6. Phật Giáo là tôn giáo hay triết học?

Câu hỏi rất bao quát. Vì lẽ, trên thế giới có nhiều tôn giáo và nhiều quan niệm khác nhau về Thương Đế; và mỗi tôn giáo đều có chủ trương và học thuyết khác nhau. Tuy nhiên, có thể khái quát các nhóm tôn giáo thế giới (world religions) theo hai đặc tính cơ bản, đó là :

a/ Tôn giáo hữu thần (theistic religions) – tôn giáo tin rằng có sự hiện hữu của một (độc thần giáo) hoặc nhiều (đa thần giáo) vị thần linh như Đấng sáng thế, Thượng Đế, hay Phạm Thiên… sáng tạo và làm chủ đời sống của con người và vạn vật.

b/ Tôn giáo vô thần (non-theistic religions) – tôn giáo không tin rằng các vị Thần Linh sáng tạo, làm chủ và ngự trị cuộc sống của con người và vạn vật.

Trong giới hạn của phần định này, thì Phật giáo là một tôn giáo không có mặt của một Thưỡng đế hữu ngã và độc tôn, nhưng có đầy đủ chức năng của một tôn giáo – theo cách hiểu của ngành tôn giáo học hiện đại, bao gồm: các lĩnh vực khái niệm như ngôn ngữ, kinh điển, biểu tượng; các hình thức nghi lễ, hành trì, tu tập; và các mối liên hệ chặt chẽ với xã hội.

Mặc dù vậy, không ít người, xưa và này, vẫn xem Phật Giáo như một “triết lý sống” hay một “triết lý của sự giác ngộ“; và tất nhiên, điều đó hoàn toàn hợp lý tuỳ theo mỗi cá nhân.

7. Triết lý căn bản của Phật Giáo là gì?

Triết lý căn bản của Phật Giáo được Đức Phật giảng dạy trong pháp thoại đầu tiên của Ngài tại vườn Nai (Lộc uyển) đó là bài Pháp về Bốn chân lý: khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự chấp dứt khổ đau và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau.

Pháp thoại tiếp theo bài giảng đầu tiên này, Đức Phật dạy về Vô Ngã tức là không có một ngã tính thường hằng bất biến trong sự hiện hữu của hợp thế năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành và thức); hay nói khác đi, cả thế giới của vật lý và tâm lý đều không có ngã tính thường tại, vĩnh hằng.

Tuy nhiên, bạn cũng nên nhớ rằng trên con đường đi đến giác ngộ, Đức Phật đã thiền quán sâu xa về chân lý Duyên Khởi; và chính trong dòng thiền quán này, Ngài đã giác ngộ toàn triệt và trở thành một vị Phật sau khi chặt đức vòng nhân duyên khổ đau. Do đó, có thể nói triết lý căn bản của Phật Giáo được gói trọn trong các giáo lý : Bốn chân lý, Duyên khởi và vô ngã.

Lời bình: có người nói rằng “đời là bể khổ”. Con người ta từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi luôn cảm thấy khổ đau, bất hạnh, cuộc sống không theo mong muốn của mình. Tuy nhiên, đó là sự tương đối, vì sự mong muốn của mỗi người là khác nhau và chúng ta quá tham vọng, đòi hỏi nhiều thứ. Nếu chúng ta biết chập nhận, biết hưởng thụ những gì mình đang có thì ta luôn cảm thấy hạnh phúc.

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CHIA SẺ CÙNG QUÝ BẰNG HỮU

PHẢI CHĂNG ĐẠO PHẬT CHỦ TRƯƠNG LÌA BỎ THẾ GIAN?

PHẢI CHĂNG ĐẠO PHẬT CHỦ TRƯƠNG LÌA BỎ THẾ GIAN?
phật-thích-ca-nhang-sạch-thiên-hương
phật-thích-ca-nhang-sạch-thiên-hương

5. Phải chăng đạo phật chủ trương lìa bỏ thế gian?

Bạn hãy thận trong với câu hỏi này. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người đã đạt được giác ngộ, giải thoát tối thượng, tức là Ngài đã thực thụ giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi ở độ tuổi trung niên. Thế nhưng Ngài vẫn ở lại thế gian thêm hơn bốn mươi năm nữa để truyền bá Chánh Pháp nhằm đẹm lại lợi ích cho thế gian. Ở đây có hai điểm cần hiểu rõ:

a. Khái niệm giác ngộ (bodhi) trong đạo Phật được hiểu là sự thức tỉnh toàn diện về dòng vận hành của duyên khởi trong đời sống con người, bao gồm cả tâm lý và vật lý. Do năng lực tỉnh thức toàn diện này mà bạn có thể vượt qua các phiền não, nhiểm ô và kiến lập đời sống an lạc, hạnh phúc cho chính mình.

Vả lại năng lực tỉnh thức được chia thành nhiều cấp độ khác nhau từ thấp đến cao. Do vậy, một đời tu tập chưa hẳn đã tao được cho mình một năng lực tỉnh thức toàn diện (giác ngộ chân lý tuyệt đối), vì nó còn tuỳ thuộc vào dòng nghiệp lực trong nhiều đời của mỗi cá thể.

b. Khái niệm giải thoát (moksha – vượt lên trên hay vượt ra khỏi) trong đạo Phật cũng vậy, nó bao hàm nhiều cấp độ khác nhau, từ việc nhỏ đến việc lớn. Khi nào bạn vượt ra hỏi những ràng buộc của các phiền não như tham lam, sân hận, si mê chấp thủ… trong đời sống của chính mình thì khi đó bạn được giải thoát.

Cho đến khi nào tâm thức của bạn hoàn toàn không còn bị chi phối bởi các phiền não đó thì bạn sẽ thực thụ hưởng thụ hương vị giải thoát. Thế nhưng, để đạt được sự giải thoát tối hậu đòi hỏi bạn phải bứng tận góc rễ của các phiền não trong tâm thức của chính bạn một cách toàn triệt, vì chính các phiền não nhiễm ô là cái nhân của sinh tử, luân hồi.

Do vậy, nói khác đi, giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi là giải thoát khỏi các phiền não, nhiễm ô trong đời sống của chính bạn và đó chính là khái niệm “xuất thế” của Đạo Phật. Nên nhớ rằng, để đạt được giải thoát bạn không cần phải đi đâu hết, mà trái lại bạn cần phải tu tập ngay bây giờ và ở đây, ngay nơi con người này và tại thế giới này.

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CHIA SẺ CÙNG QUÝ BẰNG HỮU