NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CAM KẾT

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CAM KẾT
Nhang-Sạch-Thiên-Hương-cam-kết
Nhang-Sạch-Thiên-Hương-cam-kết

 

Nguyễn Trường Quang, Giám đốc NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG 0918 632 557

SỐ NÉN HƯƠNG VÀ Ý NGHĨA DÂNG HƯƠNG TRONG ĐỜI SỐNG

Người Việt Nam đã quen chọn số lẻ (1, 3, 5, 7, 9) lúc thắp nhang, nhưng cũng có trường hợp người ta đốt cả nắm nhang chứ không chú trọng vào ý nghĩa con số. Còn theo lý giải của nhà Phật cho rằng số lẻ mang nhiều ý nghĩa linh thiêng hơn. Con số 3 thì có nhiều quan niệm khác nhau, đó có thể là:

Tam bảo (Phật – Pháp – Tăng),

Tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới),

Tam thời (Quá khứ – Hiện tại – Vị lai),

Tam vô lậu học (Giới – Định – Tuệ)

Nén hương, cũng có thêm một ý nghĩa đặc biệt khác nữa, đó là thắp nhang để nhớ đến sự vô thường. “Vô thường” là từ Hán-Việt, tức là không vĩnh viễn – tất cả đều giả tạm, cho nên lúc nén hương tắt cháy thì cũng tượng trưng cho đời người tắt cháy, ngắn ngủi vô thường như thời gian của nén hương… Tàn tro của hương nhắc nhở chúng ta chớ để thời gian trôi
qua, uổng phí tháng ngày.

Trong nghi lễ Phật giáo, hương là một trong sáu lễ vật dâng cúng, gồm có: Hương, Hoa, Đăng, Trà, Quả, Thực (Nhang, Bông, Đèn, Trà, Trái, Thức ăn). Tuy nhiên nhiều người không rõ về ý nghĩa sâu xa của việc cúng Phật nên bày biện đủ thức ăn uống như yến tiệc, thật là phí của, phí công mà lại còn làm sai lạc ý nghĩa. Không lẽ Phật sẽ lên trên bàn thờ mà ăn từng trái táo, uống từng chung trà hay cả nhấp từng… ngụm rượu sao?!

Theo quan niệm của Phật giáo, lòng thành thể hiện qua làn khói hương nghi ngút, không cần cỗ bàn yến tiệc thịt cá, heo quay linh đình… vì đúng ý nghĩa sự Cúng Phật thì chỉ nên dùng hương thơm, đèn sáng, hoa tươi, trái tốt, nước trong là đủ. Phật không phải ở trên bàn thờ, trong những pho tượng, mà là ở trong tâm của tất cả con người.

Ngoài những nén hương dùng ngọn lửa nóng để đốt cháy lên, chúng ta còn có thể dùng đức tin của mình thắp lên những nén Tâm hương – hương từ trong tâm khảm mỗi cá nhân. Bởi vậy mới có năm thứ hương dùng để cúng dường chư Phật: Giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương và giải thoát tri kiến hương.

Không chỉ Phật giáo, mà cả các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo cũng dùng hương trong các ngày lễ của mình. Người Thiên Chúa giáo xông hương trong các thánh lễ, trước bàn thờ, trước cuốn Kinh Thánh, mình Thánh, rượu Thánh và cả linh cữu của người đã mất…

Trước thời Chúa Jésus, những hương liệu như loại trầm frankincense có giá trị hơn cả vàng
bạc châu báu. Đó là vì cổ nhân tin rằng những loài cỏ cây thơm là do chư Thiên ban cho từ trên cao và đã thấm nhuần hương thơm của Đức Chúa Trời.

Có tài liệu ghi rằng, khi Chúa Jésus giáng sinh, có ba vị vua đem ba thứ châu báu quý nhất trong nước thời đó để dâng lên cho ngài – đó là Vàng, Hương Trầm và Dầu thơm đặc biệt từ rễ cây Myrrh. Điều này chứng tỏ hương trầm từ xa xưa vốn đã được xem như một vật quý giá thiêng liêng. Khói hương hòa vào không khí khiến cho không gian vạn vật xung quanh đều được thơm ngát, ví như tâm hành “Tùy thuận chúng sinh” của các bậc Bồ tát Đại nhân vậy.

Những tôn giáo khác như Ấn Độ giáo (Hinduism) hay Bà la môn giáo (Brahman) thì lại dùng hương để thư giãn và tập trung hơi thở lúc ngồi Thiền. Trong khi đó, đạo Phù thủy (Wiccanism) dùng hương để trở về với sức sống thiên nhiên để cảm thông với các vị nữ thần như Aphrodite. Trái lại, theo đạo Khổng (Confucianism) thì khói hương tượng trưng cho Đại Trượng Phu – chỉ bay lên chứ không bao giờ lặn xuống.

Hương không có màu sắc nhưng luôn thơm ngát, như câu “Tự tại trong hành xứ, như chim giữa hư không, tìm dấu chân không thấy” (Như mùi hương vô sắc phảng phất thơm lừng, bậc tĩnh lặng sống tự tại giữa đời, đem lại an lạc và lợi ích cho đời nhưng không lưu lại một dấu tích danh sắc nào trên bia ký). Rời khỏi cuộc đời, có chăng chỉ là một khoảng không gian ngát hương: mùi hương của loại hương bay ngược chiều gió!2

Ở nhiều vùng Nam Bộ, người ta còn thắp hương cho từng gốc cây, góc nhà với quan niệm mọi vật đều có đời sống tâm linh của nó, cũng như là để thần thánh, hoặc vong/ hương linh hút vào sức lực để hiển linh.

Một điều chúng ta phải cần ghi nhớ là mỗi lần dâng hương trước bàn thờ: không những dâng hương bằng tấm lòng thành kính của mình, mà còn phải có chánh niệm. Nên cắm từng nén hương với hai tay và cắm cho ngay thẳng, tượng trưng cho tấm lòng ngay thẳng, mặc cho bão táp phong ba không hề dời đổ mà vẫn giữ nguyên phong cách của người quân tử có tấm lòng trong sạch để lưu lại tiếng thơm với đời…

Tuy nhiên, cũng cần ghi nhớ rằng các nhà khoa học mới đây cho biết nhang càng thơm càng chứa nhiều độc tố có hại cho sức khỏe con người3, vì thế không nên lạm dụng và cũng cần lưu ý vấn đề hỏa hoạn kẻo lại mất vui trong những ngày Tết!

Sưu tầm

CÁCH BÀI TRÍ VÀ THỜ CÚNG BÀN THỜ THẦN TÀI

CÁCH BÀI TRÍ VÀ THỜ CÚNG BÀN THỜ THẦN TÀI

Trong nhà, văn phòng công ty hay các cơ sở kinh doanh đều có bàn thờ Thần Tài. Chúng ta lập bàn thờ Thần tài lớn và trang nghiêm rực rỡ, chưng cúng bông và trái cây thường xuyên. Cúng nước mỗi sáng mỗi chiều và thắp 3 nén nhang khấn vái để Thần Tài luôn luôn phù hộ cho chúng ta làm ăn phát tài, phát lộc. Trên bàn thờ, ngoài bài vị Thần Tài còn có đặt phía ngoài hai tượng: tượng Ông Địa và tượng Ông Thần Tài.

Chúng ta không chỉ cúng Thần Tài vào ngày tết, mà cúng quanh năm, nhất là những gia đình chuyên nghề buôn bán. Chúng ta phải tin rằng, chỉ khi nào lo cho vị thần này chu đáo thì ông mới phù hộ. Sáng sớm, khi mở cửa bán hàng bạn thắp 3 nén nhang sạch cầu khẩn Thần Tài “độ” cho đông khách, mua may bán đắt, trong ấm ngoài êm.

Vào ngày tết, vai trò của Thần Tài càng được xem trọng hơn. Bạn phải chăm lo trang hoàng nhà cửa, sửa soạn cho ông sạch sẽ, nếu vị thần này đã quá cũ hay bị hư thì sẽ thỉnh vị mới về. Phải tin rằng năm mới, mọi thứ đều ngăn nắp và Thần Tài có sạch sẽ thì làm ăn mới phát tài.

 

Cách bài trí

Trong cùng bàn thờ là một tấm Bài vị như đã nói ở phần trên . Hai bên, bên trái ( từ ngoài nhìn vào ) là ông Thần tài, bên phải là Ông Địa. Ở giữa hai ông là một hũ gạo, một hũ muối và một hũ nước đầy. Ba hũ này chỉ đến cuối năm mới thay. Giữa bàn thờ là một lư nhang.

Để tránh động lư nhang khi lau chùi bàn thờ, các bạn nên dùng keo 502 hoặc keo 2 mặt dán dính lư xuống bàn thờ. Khi đang làm ăn tốt mà xê dịch lư gọi là bị động lư nhang, mọi chuyện trở nên trục trặc liền. Theo nguyên lý ” Đông Bình – Tây Quả ”, các bạn đặt lọ hoa bên tay phải, đĩa trái cây bên tay trái ( Nhìn từ ngoài vào ).

Thường nên cắm hoa hồng, hoa cúc, hoa đồng tiền. Trái cây nên xắp ngũ quả ( 5 loại trái cây: CẦU SUNG VỪA ĐỦ SÀI ). Thường ở ngoài nơi bán đồ thờ cúng , người ta có một cái khay xếp 5 chén nước hình chữ Nhất, các bạn nên bỏ khay và xếp 5 chén nước thành hình chữ thập, tượng trưng cho ngũ phương và cũng là tương trưng cho Ngũ Hành phát sinh phát triển.

Ông Cóc để bên trái ( Từ ngoài nhìn vào ), sáng quay Cóc ra, tối quay Cóc vào. Ngoài cùng trên mặt đất , các bạn nên chọn một cái tô sứ thật đẹp, nông lòng, đổ đầy nước và ngắt những bông hoa trải trên mặt nước ( Cái này làm Minh Đường Tụ Thủy – Một cách giữ tiền bạc khỏi trôi đi ).

Trên nóc bàn thờ Thần Tài, người ta thường đặt tượng của Di Lặc Phật Vương hay các câu chú Phạn tự để tăng thêm phần bảo vệ cho gia chủ tránh khỏi tai ách. Một số người trong miền Nam, khi cúng Thần Tài – Ông Địa, thường cúng kèm theo một đĩa tỏi có 5 củ tươi nguyên đẹp đẽ hay nhiều khi là cả một bó tỏi.

Người đời cho rằng : ông địa thích tỏi lắm nên ta đặt trước mặt ổng là đúng cách, cho ổng có phương tiện để bài trừ ” các đạo chích vong binh ” ám muội, thực ra họ dùng bó tỏi đó để phòng chống các Tà sư làm ác, phá hoại bàn thờ nhà người ta bằng Bùa, Ngải. Tỏi có tác dụng tránh được điều đó ( Các người luyện Bùa, Ngải thường kiêng ăn : Hành , Hẹ , Tỏi , Kiệu ). 

Nguyên tắc đặt bàn thờ Thần Tài là phải từ bàn thờ, Thần Tài phải quán được hết sự vào ra của khách hàng. Có thể đặt theo hướng tốt của chủ nhà, có thể đặt theo cách hứng lấy dòng Khí bên ngoài khi vào nhà. Có thể dùng phương pháp Điểm Thần Sát để tính, chọn lấy các cung THIÊN LỘC, QUÝ NHÂN để đặt vị trí bàn thờ.

Nhang Sạch Thiên Hương xin chia sẻ cùng Bạn!

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG – TÌM HIỂU VỀ BÀN THỜ VỌNG

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG – TÌM HIỂU VỀ BÀN THỜ VỌNG

Bàn thờ vọng ngày nay khá phổ biến, áp dụng cho con cháu sống xa quê, hướng vọng về quê, thờ cha mẹ ông bà tổ tiên, hương khói trong những ngày giỗ, tết. Ngày xưa, với nền kinh tế nông nghiệp tự cung, tự cấp, người nông dân suốt đời không rời quê cha đất tổ, chuyển cư sang làng bên cạnh cũng đã gọi là biệt quán, ly hương, vì vậy bàn thờ vọng chỉ là hiện tượng cá biệt và tạm thời, chưa thành phong tục phổ biến.

“Vọng bái “, nghĩa là vái lạy từ xa. Ngày xưa, khi triều đình có những điển lễ lớn, các quan trong triều tập trung trước sân rồng làm lễ, các quan ở các tỉnh hoặc nơi biên ải, thiết lập hương án trước sân công đường, thắp hương (nhang), nến, hướng về kinh đô quỳ lạy Thiên tử.

Khi nghe tin cha mẹ hoặc ông bà mất, con cháu chưa kịp về quê chịu tang, cũng thiết lập hương án ngoài sân, hướng về quê làm lễ tương tự. Các bàn thờ thiết lập như vậy chỉ có tính chất tạm thời, sau đó con cáo quan xin về cư tang ba năm. Các thiện nam tín nữ hàng năm đi trẩy hội đền thờ Đức Thánh Trần ở Vạn Kiếp, đức Thánh Mẫu ở Đền Sòng v.v… dần dần về sau, đường sá xa xôi, cách trở, đi lại khó khăn, cũng lập bàn thờ vọng như vậy.

Nơi có nhiều tín đồ tập trung, dần dần hình thành tổ chức. Các thiện nam tín nữ quyên góp nhau cùng xây dựng tại chỗ một đền thờ khác, rồi cử người đến bàn thờ chính xin bát hương về thờ. Những đền thờ đó gọi là vọng từ (thí dụ ở số nhà 35 phố Tôn Đức Thắng Hà Nội có “Sùng Sơn vọng từ” nghĩa là Đền thờ vọng của núi Sòng, thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh).

Bàn thờ vọng ông bà cha mẹ chỉ được tập trung trong trường hợp sống xa quê. Những người con thứ, bất cứ giàu nghèo, sang hèn thế nào, nếu ở gần cánh cửa trưởng trên đất tổ phụ lưu lại, thì đến ngày giỗ, ngày tết, con thứ phải có phận sự hoặc góp lễ, hoặc đưa lễ đến nhà thờ hay nhà con truởng làm lễ, cho dù cửa trưởng chỉ thuộc hàng cháu, thì chú hoặc ông chú vẫn phải thờ cúng ông bà tại nhà cửa trưởng.

Do đó không có lệ lập bàn thờ vọng đối cửa thứ ngay ở quê nhà. Nếu cửa trưởng khuyết hoặc xa quê, thì người con thứ 2 thế trưởng được lập bàn thờ chính, còn bàn thờ ở nhà người anh cả ở xa quê lại là bàn thờ vọng.

Phong tục rất hay và rất có ý nghĩa. Bởi lẽ chữ Hiếu đi đôi với chữ Đệ. Khi sống cũng như đã mất, ông bà cha mẹ bao giờ cũng mong muốn anh chị em sống hòa thuận, một nhà đầm ấm. Thỉnh vong hồn về cầu cúng lễ bái, mà anh chị em ở gần nhau không sum họp, mỗi người cúng một nơi, thì đó là mầm mống của sự bất hoà, vong hồn làm sao mà thanh thản được.

Cách lập bàn thờ vọng:

Chưa phải là phong tục cổ truyền, chưa có nghi lễ nhất định, mà chỉ là kinh nghiệm truyền cho nhau khoảng đầu thế kỷ lại nay tuỳ hoàn cảnh thuận tiện mà vận dụng: Khi bắt đầu lập bàn thờ vọng phải về quê chính báo cáo gia tiên tại bàn thờ chính. Sau đó xin phép chuyển một lư hương (nhang) phụ hoặc mấy nén hương (nhang) đang cháy giở mang đến bàn thờ vọng rồi thắp tiếp.

Nếu có nhà riêng, tương đối rộng rãi khang trang, thì bàn thờ đặt hẳn một phòng riêng chuyên để thờ cúng cho tôn nghiêm, hoặc kết hợp đặt ở phòng khách, nhưng cao hơn chỗ tiếp khách. Nếu đặt bàn thờ gia thần riêng, thì phải đặt thấp hơn bàn thờ gia thần một ít. Đặt hướng nào? – Hướng về quê chính, để khi người gia trưởng thắp hương vái lạy thuận hướng vái lạy về quê.

Không nên đặt bàn thờ trong buồng ngủ, trừ trường hợp nhà chật hẹp quá thì phải chịu. Không nên đặt cạnh chỗ uế tạp, hoặc cạnh lối đi. Đối với những gia đình ở khu tập thể nhà tầng, nếu câu nệ quá thì không còn chỗ nào đặt được bàn thờ. Những người sống tập thể, chỉ đặt một lọ cắm hương đầu giường nằm của mình cũng đủ, miễn là có lòng thành kính, chẳng cần phải câu nệ hướng nào, cao thấp rộng hẹp ra sao.

Bàn thờ vọng rất cần thiết cho người đi làm ăn xa như chúng ta. Chúng ta là những người từ các tỉnh về trung tâm TPHCM hay Hà Nội lập nghiệp. Để tưởng nhớ về ông bà, cha mẹ, tổ tiên đã khuất và cũng để tạo không khí ấm áp trong gia đình, chúng ta nên lập bàn thờ vọng. Hàng ngày thắp nhang (hương) vào 2 buổi sáng tối cầu bình an may mắn cho gia đình.

 NhangSachThienHuong.com xin chia sẻ cùng Bạn!

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG – TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG – TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, phong tục thờ cúng tổ tiên hay còn gọi được gọi khái quát là Đạo Ông Bà là tục lệ thờ cúng những người đã chết, đặc biệt là tổ tiên, của nhiều dân tộc Đông Nam Á và đặc biệt phát triển trong Văn Hóa Việt. Đối với người Việt, nó gần như trở thành một thứ tôn giáo; không gia đình nào không có bàn thờ tổ tiên trong nhà. 

Bàn thờ tổ tiên

Trong gia đình người Việt thường có một bàn thờ tổ tiên, ông bà (hay còn gọi ông Vải). Tuỳ theo từng nhà, cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác nhau. Biền, bàn thờ là nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất.

Hai cây đèn tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, hương (nhang) là tinh tú. Hai bát hương (nhang) để đối xứng, phía sau 2 cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy, với nhiều bông nhỏ bao quanh bông lớn. Cũng có nhà cắm “cành vàng lá ngọc” (một thứ hàng mã) với cầu mong làm ăn được quả vàng, quả bạc, buôn bán lãi gấp 5 hoặc gấp 10 lần năm trước.

Ở giữa có trục “vũ trụ” là khúc trầm hương dưới dạng khúc khuỷu, vươn lên trong bát hương. Nhiều gia đình đặt xen giữa đèn và hương là hai cái đĩa để đặt hoa quả lễ gọi là mâm ngũ quả (tuỳ mỗi miền có sự biến thiên các loại quả, nhưng mỗi loại quả đều có ý nghĩa của nó), phía trước bát hương để một bát nước trong, coi như nước thiêng. Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy về với con cháu, dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới…

Bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng đặt tại nơi cao ráo, sạch sẽ và trang trọng nhất trong nhà (gian giữa đối với nhà một tầng, tầng trên cùng đối với nhà tầng). Trên bàn thờ thì bày bát hương, chân đèn, bài vị hay hình ảnh người quá cố, chỗ thắp nến. Đồ cúng cơ bản không thể thiếu hương, hoa, chén nước lã. Ngoài ra có thể có thêm thức ăn, trà rượu, và có khi có cả đồ vàng mã (quần áo đồ dùng làm bằng giấy), tiền âm phủ…

Sau khi tàn một nửa tuần hương (nhang), đồ vàng mã và tiền âm phủ được đem đốt, được gọi là hoá vàng, còn chén rượu cúng thì đem rót xuống đống tàn vàng. Tục truyền rằng phải làm như vậy người chết mới nhận được đồ cúng tế, vì hương khói bay lên trời, nước (rượu) hòa với lửa mà thấm xuống đất.

Cách bài trí

Lớp trong
  • Chiếc rương thật lớn, cao khoảng 1m, dài và rộng 2m. Mặt trước gồm ba ô, mỗi ô khắc một chữ đại tự (大佀). Đôi khi, chiếc rương được thay bằng chiếc bàn to, kê trên 2 chiếc mễ (1m).
  • Có 2 chiếc mâm đặt phía trong bàn thờ. Mâm to đựng cỗ, mâm bé bày hương hoa trong ngày giỗ. Chiếc thứ 2 phải bé hơn chiếc thứ 1.
  • Có một chiếc thần chủ đặt trong khám thờ kê trên chiếc bệ. Có thể thay thế bằng chiếc ngai (chiếc ỷ) để tổ tiên thuộc hàng cao có thể kiểm soát con cháu thờ cúng.
  • Trước thần chủ thường có đĩa đựng trầu cau, 3 ly nước lã trong, chén (hoặc bình) rượu nhỏ, đĩa đồng hoặc sứ đặt 2 bên để đặt hoa quả, thức ăn để thờ…
  • Bên trong đặt bài vị của tổ tiên bằng sứ, có thể thay thế bằng ảnh chân dung người mất được treo lên tường sau hoặc đặt trên mặt bàn thờ.

Lớp ngoài

  • Hương án thật cao
  • Bình hương lớn bằng sứ hoặc đồng, trong đó có để cát hoặc tro ở trong, ở giữa cắm trụ sắt cao để đặt hương vòng.
  • Hai bên có 2 cây đèn, bật khi cúng lễ
  • Hai cây đồng để thắp nến, có thể thay thế bằng 2 con hạc đồng. Đồng có thể thay bằng sứ.
  • Có thể trang trí thêm đồ vật như hoành phi, câu đối… vào chính giữa bàn thờ hoặc hai bên.

Thắp hương

Việc thắp hương trên bàn thờ bao giờ cũng phải thắp theo số lẻ: 1, 3, 5, 7, 9, 11,… mà tránh thắp số chẵn như 2, 4, 6, 8, 10,… Người ta quan niệm rằng, số lẻ là dương nên nó phù hợp hơn với tổ tiên (người dương thắp cho người âm). Loại hương thẳng gồm 2 phần: chân hương màu hồng đỏ, màu cánh sen, khói hương thơm nhè nhẹ thoang thoảng dễ chịu.

Có một loại hương vòng bao gồm nhiều vòng hương, có buộc dây, được đặt trên que sắt trong bình hương. Khi thắp hương, người ta phải để hương sao cho thật thẳng, tránh để hương bị nghiêng, méo hay siêu đổ khiến đốm lửa giữa các nén hương không đều nhau, làm hương bị tắt lửa, hương tàn xuống có thể gây cháy những đồ lễ vật trên bàn thờ hoặc gây Hỏa hoạn.

Cúng Tổ tiên

Người Việt thường cúng Gia tiên vào ngày Sóc – Vọng (Sóc là ngày Mồng Một, Vọng là ngày Rằm hàng tháng), lễ Tết, giỗ hoặc bất kỳ lúc nào cần được gia tiên phù hộ như: sinh con, đẻ cái, kết hôn, làm nhà, lập nghiệp, có trục trặc về sức khỏe. Đây là cách để thể hiện đạo lý Uống nước nhớ nguồn.

Nhang Sạch Thiên Hương xin chia sẻ cùng Bạn!

Ý NGHĨA MÙA VU LAN, MÙA BÁO HIẾU (P2)

Ý  NGHĨA MÙA VU LAN, MÙA BÁO HIẾU (P2)

Ý nghĩa 3: Đó là ngày nhận thêm tuổi đạo.

Đây là ngày được nhận tuổi đạo. Ở thế gian cha mẹ sanh con, khi người con tròn một năm thì được gọi là một tuổi. Nhưng ở đạo Phật, hàng xuất gia thọ Tỳ kheo, không tính theo kiểu thế gian mà tính theo tuổi hạ lạp, có nghĩa là vị Tỳ kheo sau ba tháng an cư kiết hạ thì được tính một tuổi. Tuổi hạ lạp này cũng nói lên quá trình tu học chuyên cần trong quá trình thúc liễm thân tâm, trau dồi giới định tuệ.

Ý nghĩa 4: Đó là ngày xá tội vong nhân.

Cứ đến ngày rằm tháng bảy, người con Phật nói chung và người Việt Nam nói riêng, trong lòng ai ai cũng có một điều gì thiêng liêng nhắc nhở: ngày Vu lan đã về, cũng là dịp cầu siêu độ cho những tiền nhân quá cố. Trong Kinh Vu lan có dạy:

“Người nào có sắm ra vật thực
Đặng cúng dường tự tứ tăng thời
Hiện tiền phụ mẫu của người
Bà con quyến thuộc thảy đều nhờ ơn
Tam đồ khổ chắc rằng ra khỏi
Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên
Ví như cha mẹ hiện tiền
Nhờ đó cũng đặng bá niên thọ trường
Như cha mẹ bảy đời quá vãng
Sẽ hoá sanh về thẳng thiên cung”.

 

Qua đoạn kinh, chúng ta thấy ý nghĩa và phương pháp báo hiếu, xá tội cho vong nhân đã được ghi lại cụ thể. Tuy nhiên, chúng ta làm sao để tin rằng thực hiện phương pháp đó sẽ có kết quả tốt. Điều này cũng dễ hiểu thôi, vì chúng ta nương nhờ oai thần Tam bảo và sức tu tập của chư Tăng trong ba tháng an cư kiết hạ, hợp thành sức chú nguyện hồi hướng vi diệu nên vong hồn nhờ vào phước báo đó mà siêu thoát chốn tối tăm.

Do đó, ý nghĩa Vu lan chính là bức thông điệp gồm những nội dung trên và lời đức Phật dạy cho người con hiếu thảo muốn đền đáp công ơn cha mẹ sẽ mãi mãi in sâu vào trái tim dòng máu của những con người tu Phật.

Đồng thời thức tỉnh bao tâm hồn đang lạc lõng giữa chốn trần gian khổ lụy, cũng là tiếng chuông thức tỉnh bao người con mang tội bất hiếu trong quốc độ này. Mùa Vu Lan sẽ nhắc nhở cho những người con biết được ánh sáng giác ngộ mà quay về với nguồn cội bằng tinh thần tự giác.

Mùa Vu lan báo hiếu lại trở về trong lòng nhân loại, ngày mà bao con tim, bao nỗi niềm hiếu tâm đan thành tâm nguồn hạnh phúc dâng lên hai đấng sanh thành dưỡng dục. Cha ơi, mẹ ơi! Hãy cho con niềm tin vào chân lý Phật đà, và hãy chứng giám cho tâm lòng hiếu thảo nhân mùa báo hiếu của những người làm con.

Giờ đây, quỳ dưới ánh từ quang của ba ngôi báu, noi theo gương đức Mục Kiền Liên chúng ta hãy dồn hết bao nhiêu điều cao quý của mình và thành tâm, nhờ diệu lực của Tam bảo để giải thoát cho cha mẹ. Được như vậy mới mong báo đáp được thâm ân của cha mẹ chúng ta trong muôn một.

 NhangSachThienHuong.com xin chia sẻ cùng Bạn!

Ý NGHĨA MÙA VU LAN, MÙA BÁO HIẾU (P1)

Ý NGHĨA MÙA VU LAN, MÙA BÁO HIẾU (P1)

 

Ý Nghĩa đặc biệt trong mùa Vu Lan, mùa báo hiếu.

Ý nghĩa 1: Đó là ngày Chư phật hoan hỷ.

Ngày rằm tháng bảy được gọi là ngày chư Phật hoan hỷ, bởi vì trong thất chúng của đức Phật, hàng Tỳ kheo là chúng đệ tử thường gần gũi đức Phật nhiều nhất, cũng là hàng trưởng tử thừa sự chư Phật giáo hoá chúng sanh, mang y pháp đức Phật mà làm gương mẫu cho chúng sanh ở thế gian.

Theo tư tưởng Bắc truyền thì truyền thống này được đức Phật dạy cho các Tỳ kheo phải an cư tại một trú xứ để tu niệm trong ba tháng mùa mưa; và suốt ba tháng an cư kiết hạ thúc liễm thân tâm, trao dồi giới định tuệ được kết thúc vào ngày rằm tháng bảy âm lịch. Nhưng tại sao Tỳ kheo phải an cư trong ba tháng mùa hạ?

Vì:

  • thứ nhất, thời tiết ấn độ mùa hạ là mùa mưa, cho nên rất nhiêu côn trùng sinh sản, mà sa môn khất thực đi đường sẽ dễ dẫm đạp lên côn trùng, làm tổn thương đến lòng từ bi muôn vật;
  • thứ hai, sa môn đi khất thực bị mưa ướt y bát nên làm mất trang nghiêm hạnh sa môn, vô tình làm cho người thế gian sanh lòng bất kính;
  • thứ ba, đức Phật dạy chúng Tỳ kheo trong ba tháng mùa mưa, tùy mỗi nơi mà hạn chế việc đi lại để tập trung vào sự tu niệm, đồng thời thực hiện nếp sống lục hòa trong Tăng đoàn để tấn tu đạo hạnh.

Do vậy, đệ tử Phật phải thúc liễm tu học trong ba tháng viên mãn thanh tịnh, kết thúc ba tháng an cư chư Phật hoan hỷ, cho nên ngày này gọi là ngày chư Phật hoan hỷ.

Ý nghĩa 2: Đó là ngày Chúng tăng tự tứ.

Ngày tự tứ là ngày chúng Tăng tự quán xét nơi thân khẩu ý của mình, xem trong ba tháng an cư đã cố ý hay vô tình sai phạm điều gì để tự phát lồ (nêu ra), rồi nhờ chư Tăng có giới đức chứng mình cho mình được sám hối.

Đây là một cử chỉ rất đẹp, chúng ta nên trân trọng giữ gìn vì nó có một ý nghĩa hết sức đặc biệt trên hành trình đi đến giác ngộ. Ở thế gian, khi một người bị lỗi lầm thì họ cố ý tìm cách tránh né, chạy trốn lỗi lầm ấy; nếu để người khác biết thì sẽ xấu hổ, cho nên họ thường che dấu và vì vậy nên tội lỗi ngày càng chất chồng.

Nhưng theo đạo giác ngộ thì sau ba tháng hạ an cư xong, đức Phật dạy hàng sa môn phải cầu người khác chỉ lỗi cho mình, có nghĩa là không để người khác chỉ lỗi mà phải thật tâm mình cầu người khác hoan hỷ chỉ cho, để đối trước Tăng chúng mà thưa: “Bạch đại đức, ngày nay chúng Tăng tự tứ, con cũng tự tứ, con có điều chi sai phạm mà đại đức thấy, nghe, hoặc nghi, xin đại đức thương xót chỉ cho, nếu con thấy có phạm thì xin như pháp sám hối”.

Đó chính là sự phát tâm cầu thanh tịnh, không có chút che dấu, bạch ra cho đại chúng chỉ dạy để được trong sạch, để không còn tội lỗi nữa. Vì vậy, ngày này được gọi là ngày Chúng tăng tự tứ.

 NhangSachThienHuong.com rất vui được chia sẻ cùng Bạn!

VU LAN – MÙA BÁO HIẾU

VU LAN – MÙA BÁO HIẾU

Từ nhỏ tôi thường thấy ông bà, cha mẹ mình cúng vào dịp Lễ Vu Lan, rằm tháng 7. Cha mẹ thường làm nhiều việc báo hiếu cha mẹ nhân mùa Vu Lan. Gia đình thường ăn chay nhiều hơn, đi chùa nhiều hơn và sống vui vẻ hòa thuận hơn.

Lũ trẻ chúng tôi tới ngày đó là rủ nhau đi Núi Dinh, Núi Hổ, chùa chiền… Tối về thì cùng nhau đến hết nhà này tới nhà khác giật mâm cúng mà người ta hay gọi là cúng thí cô hồn. Những đứa trẻ rất háo hức tham gia, thật vui. Bây giờ vẫn còn diễn ra, nó như một nét văn hóa của Người Việt.

Sau này lớn lên, tôi mới hiểu trong tháng 7 là mùa Vu Lan, báo hiếu. Và cúng ngày rằm tháng 7 là cúng cô hồn. Đến nay thì hầu hết người Việt nhất là phật tử luôn báo hiếu, cúng dường và hướng thiện vào mùa Vu Lan. Đó là nét đẹp trong văn hóa Việt.

Vậy chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu sự tích về lòng hiếu thảo và bố thí vong linh nhân mùa Vu Lan và Rằm tháng 7 nhé.

Theo dòng lịch sử, chúng ta thấy ngày lễ Vu lan bắt nguồn từ sự tích về lòng hiếu thảo, tìm cách báo ân dưỡng dục của đức Mục Kiền Liên. Chuyện kể rằng sau khi đức Mục Liên tôn giả xuất gia theo Phật, tu tập chứng quả lục thông.Vì biết mẹ mình lúc còn sống đã gây nhiều ác nghiệp, nên Ngài dùng thần thông tìm thấy mẹ mình bị đọa vào kiếp ngạ quỷ đói khát nơi địa ngục A tỳ.

Nhìn thấy thân hình tiều tụy da bọc xương vì đói khát của mẹ, Ngài rất đỗi thương cảm xót xa nên liền đi khất thực xin được bát cơm đem dâng mẹ, nhưng vì nghiệp tham lam bỏn xẻm của bà chưa dứt, đã chiêu cảm làm cho bát cơm hóa thành than lửa, không thể nuốt được.

Đức Mục Liên đau đớn vô cùng, khóc than thảm thiết rồi trở về bạch chuyện với đức Phật để xin phương pháp cứu mẹ. Những lời Phật dạy được ghi lại thành Kinh Vu Lan và ngày ấy trở thành đại lễ truyền thống hiếu đạo cho mọi người con Phật trên khắp nẻo hành tinh.

Và hạnh nguyện ấy được thể hiện cụ thể qua tấm gương hiếu thảo của Tôn giả Mục Kiền Liên và đã thắp lên thành ngọn đuốc hiếu đạo rực sáng như là bức thông điệp hiếu kính cha mẹ để chúng ta noi theo.

Riêng dân tộc Việt Nam chúng ta, Lễ Vu lan là ngày hội của truyền thống hiếu đạo, trở thành bản sắc văn hóa ăn sâu vào tâm thức toàn dân mấy nghìn năm rồi.

Cho nên, ngày rằm tháng bảy là ngày dân tộc Việt Nam luôn luôn nhớ đến và xem đó như là “ngày hội về chữ hiếu của dân tộc”, và trong một phương diện nào đó cũng có thể gọi là “ngày xá tội vong nhân”,…

Vậy chúng ta cần làm gì để thể hiện mình là người con có hiếu?

Thật may mắn và hạnh phúc cho những người còn cha mẹ, ông bà để yêu thương và báo hiếu. Tôi thấy những người con hiếu thảo thường lo cha mẹ họ về vật chất và tâm linh rất nhiều. Họ lo đầy đủ cho cha mẹ miếng ăn giấc ngủ, các phương tiện giải trí, tổ chức đi chơi, viếng cảnh chùa, du lịch hành hương… và đặc biệt họ lo tươm tắc bàn thờ gia tiên mà cha mẹ đang thờ cúng vì đó là cách cha mẹ họ báo hiếu tổ tiên.

Những người không may không còn cha mẹ sống trên đời, họ thường thể hiện tình cảm hiếu đạo của mình thông qua các nghi lễ tâm linh. Họ trang hoàng bàn thờ đẹp, trang trọng và thắp hương, hoa quả suốt cả tháng. Họ cùng dường làm từ thiện nhiều hơn nhất là cho người già, cầu an cầu siêu cho cha mẹ nơi chín suối…

Ngoài tinh thần hiếu đạo ra, Lễ Vu lan và ngày rằm tháng bảy còn có ý nghĩa khác nữa…

Nhang Sạch Thiên Hương rất vui được chia sẻ cùng Bạn!

NGHI THỨC CÚNG RẰM THÁNG 7 ÂM LỊCH

NGHI THỨC CÚNG RẰM THÁNG 7 ÂM LỊCH

Theo phong tục tập quán của người Việt, thường cúng vào các ngày rằm, mùng 1… Trong đó, rằm tháng 7 người ta hay cúng rất lớn. Cúng rằm tháng 7 còn gọi là cúng Tết Trung Nguyên. Đây cũng là tháng Vu Lan để chúng ta báo hiếu cha mẹ còn sống và tưởng nhớ cha mẹ đã khuất núi.

Hôm nay Nhang Sạch Thiên Hương xin chia sẻ cùng Bạn những hiểu biết về Nghi Thức Cúng Rằm Tháng 7 Âm Lịch của mình…

Thường bao gồm 4 lễ chính: cúng Phật, cúng thần linh, cúng gia tiên, và cúng thí thực cô hồn.

 

1. Cúng Phật

Đó là ngày lễ Vu Lan, xuất phát từ tích kể đức Mục Kiền Liên xả thân cứu mẹ.

Nghi thức : chuẩn bị một mâm cơm chay hoặc mâm ngũ quả

Khi cúng, chúng ta đọc một khoá kinh – Kinh Vu Lan – để hiểu rõ về ngày này, hồi hướng công đức cho những người thân trong quá khứ được siêu sinh.

 

2. Cúng thần linh

Một số người Việt Nam tin rằng Lễ Xá tội vong nhân bắt nguồn từ công việc đồng áng của người nông dân trước kia. Hằng năm, cứ đến tháng 6-7 âm lịch là vào vụ thu hoạch mùa màng. Để công việc được may mắn, không gặp trắc trở, người dân thường cầu xin thần linh, thổ địa… bắt giam những yêu ma, oan hồn lại cho khỏi quấy nhiễu.

Đến đúng ngày 15/7, mọi việc phải được hoàn tất, đó cũng là lúc “ông thần tha ma, chủ nhà tha thợ cấy”, “mở cửa ngục xá tội vong nhân”. Và cũng vào ngày này,

Nghi thức:

– Một mâm lễ cúng tạ ơn các thần linh

Văn khấn cúng thần linh tại gia rằm tháng 7

 Nam mô A Di Đà Phật

Kính lạy: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân vàChư vị thần linh cai quản xứ này.

Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm … (2012)

Tín chủ chúng con tên là:  … ngụ tại nhà số …., đường …., phường (xã) …., quận (huyện) …, tỉnh (thành phố) …. Thành tâm sắm sửa hương hoa, lễ vật và các thứ cúng dâng, bày lên trước án.

Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và tất cả các vị thần linh cai quản trong khu vực này. Cúi xin các ngài giáng lâm án tọa, soi xét chứng giám.

Nay gặp tiết Vu Lan, ngày vong nhân được xá tội, chúng con đội ơn Tam bảo, Phật trời phù hộ, thần linh các đấng chở che, công đức lớn lao nay không biết lấy gì đền đáp.

Do vậy, chúng con kính dâng lễ bạc, bày tỏ lòng thành, nguyện xin nạp thọ, phù hộ độ trì cho chúng con và cả gia đình chúng con, người người khỏe mạnh, già trẻ bình an hương về chính đạo, lộc tài vương tiến, gia đạo hưng long.

Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

 

3. Cúng gia tiên

– Một mâm tưởng nhớ ông bà tổ tiên để cầu nguyện cho các vong hồn siêu thoát và cầu bình an cho gia đình. Vì vậy nên đa phần các gia đình thường cúng cơm mặn, tuy nhiên cúng chay tốt hơn.

Văn tế khấn Tổ tiên ngày rằm/7

Nam mô A Di Đà Phật

Kính lạy Tổ tiên nội ngoại họ … và chư vị hương linh.

Hôm nay là rằm tháng bảy năm … (2012)

Gặp tiết Vu Lan vào dịp Trung nguyên, nhớ đến Tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành ra chúng con, gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nền nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức. Vì vậy cho nên nghĩ, đức cù lao không báo, cảm công trời biển khó đền. Chúng con sửa sang lễ vật, hương hoa kim ngân và các thứ lễ bày dâng trước án linh tọa.

Chúng con thành tâm kính mời: Các cụ Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, Bá thúc đệ huynh, cô dì tỷ muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ … (Nguyễn, Lê, Trần …)

Cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng giáng lâm linh sàng chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, bình an, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, hướng về chính đạo.

Tín chủ lại mời: các vị vong linh y thảo phụ mộc, phảng phất ở đất này, nhân lễ Vu Lan giáng lâm linh tọa, chiêm ngưỡng tôn thần, hâm hưởng lễ vật, độ cho tín chủ muôn sự bình an, sở cầu như ý.

Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

 

4. Cúng thí thực cô hồn

Ngày Rằm tháng Bảy, theo tín ngưỡng dân gian, còn là ngày mở cửa ngục, các vong nhân được xá tội nên có lễ cúng Cô Hồn (vào buổi chiều) cho các vong linh không nhà cửa, không nơi nương tựa.

Mâm cúng cô hồn thường có: quần áo chúng sinh gỡ ra từng món, rải xuống dưới mâm, một ít vàng tiền cũng làm như vậy, vài chén cháo trắng loãng, 1 đĩa muối, 1 đĩa gạo, 1 ít bỏng gạo và kẹo bánh các loại, ngô/khoai/sắn luộc rồi cắt thành khúc nhỏ v.v…

Ta có thể khấn nôm na, đơn giản, hoặc tụng nghi thức cúng thí thực cô hồn (cúng chúng sinh) trong Kinh Nhật tụng có sẵn tại các chùa..