CÓ BAO NHIÊU HỆ TƯ TƯỞNG CHÍNH YẾU TRONG PHẬT GIÁO

hương-sạch-thiên-hương-sưu-tầm-hình-phật
hương-sạch-thiên-hương-sưu-tầm-hình-phật

16. Xin cho biết có bao nhiêu hệ tư tưởng chính yêu trong Phật Giáo

Câu hỏi này rất bao quát. Vì trên thực tế, trong đạo Phật có 2 phạm trù tư tưởng, tạm phân biệt như vậy. Thứ nhất là lịch sử tư tưởng, như các nhà Phật học đã phân định dựa theo các thời kỳ phát triển của lịch sử hay còn gọi là lịch sử phân kỳ Phật Giáo. Thứ hai là lịch sử tư tưởng các tông phái của Phật Giáo.

Đối với phạm trù thứ hai, từ lịch sử tư tưởng các tông phái trong Phật Giáo, bạn cần phải có thời gian để đi vào nghiên cứu từng tông phái một, chẳng hạn như Thiền tông, Tịnh độ tông, Thiên thai tông… Ví dụ, riêng nền phật học Trung Hoa có ít nhất mười tông phái khác nhau; và mỗi tông phái đều có tư tưởng và con đường tu tập chuyên biệt.

Đối với phạm trù thứ 1, tức lịch sử tư tưởng Phật giáo, chúng ta có thể chia thành hai hệ thống tư tưởng bao quát và xuyên suốt như sau: tư tưởng Phật giáo thời NGuyên Thuỷ và tư tưởng PHật giáo thời phát triển.

Tư tưởng phật giáo thời nguyên thuỷ được xây dựng trên nền tảng của giáo lý Save money when safely celebrex buy online. Compare Celebrex prices and other prescription drug prices from verified online pharmacies. cheap dopoxetine. Duyên Khởi – Vô Ngã do chính Đức Phật dạy sau khi Ngài thành tựu quả vị giác ngộ tối hậu. Nôi dung chính của giáo lý này nói rằng, tất cả pháp có mặt trong 3 cõi (cõi dục, cõi sắc và vô sắc) đều là sản phẩm của nghỉn trùng nhân duyên. Chúng có  mặt theo thể thức vật lý như sinh thành, tồn tại, biến đổi và tan hoại (thành, trụ, hoại, không) hoặc theo thể thức tâm lý như dòng sinh khởi, hiện trụ, biến chuyển và đoạn diệt (sinh, trụ, dị, diệt) của tâm thức.

Cứ như thế các pháp thuộc về tâm lý và vật lý sinh và diêt tuỳ thuận vào các nhân duyên theo từng chi kỳ gọi là vòng luân hồi. Do vậy, những gì có mặt trong nguyên lý Duyên khởi này đều vô thường và không hề có một bản ngã cá biệt, hiện hữu một cách độc lập và vĩnh hằng. Đây là chân lý của thực tại mà Đức Phật bảo là “dầu như lai có xuất hiện hay không xuất hiện thì nó vẫn là như thế” Dựa vào nền tảng tư tưởng này, người Phật tử xây dựng một nhân sinh quan cho đời sống tu tập của chính mình, đấy là đời sống vô ngã giải thoát.

hương-sạch-thiên-hương-sưu-tầm-hình-phật
hương-sạch-thiên-hương-sưu-tầm-hình-phật

Tư tưởng Phật giáo thời phát triển bắt nguồn từ triết học Bát-Nhã của đại thừa và về sau được hình thành với hai hệ thống nổi bật đó là Trung quán và Duy thức. Cả hai hệ thống tư tưởng này đều có liên hệ chặt chẽ với giáo lý Duyên Khởi, hay nói khác đi, cả hai hệ tư tưởng nảy được xây dựng trên nền tảng của Duyên khởi. Tuy nhiên, mỗi hệ tư tưởng đều có các khái niệm và diễn giải đặc thù.

Tư tưởng Trung quán xuyển dương học thuyết về Tánh không, trong khi Duy thức nhấn mạnh đến khái niệm Tàng thức. Ở đây học thuyết về Tánh không nổ lực giải minh rằng tự tánh của các pháp là vô ngã, không có thực thể, chúng là sự tựu thành của nhiều nhân duyên. Do đó, khi thể nhập tánh không, hành giả đồng thời thể nhập thực tại vô ngã. Bạn nên nhớ rằng, khái niệm tánh vốn không phải là một phạm trù đối lập giữa có và không, trái lại chính nó là thực tại chân nguyên. Vì vậy, trong ngôn ngữ kinh điển của phật giáo phát triển tánh không là từ đồng nghĩa với Niết bàn.

Đối với triết học duy thức, khái niệm tàng thức, một học thuyết trọng yếu của hệ tư tưởng này, chỉ ra rằng tất cả khổ đau hay hạnh phúc đầu là sản phẩm của tâm phân biệt giữa ngã và pháp. Và sự phân biệt này là căn để của phiền não, sinh tử luân hồi. Do vậy, khi tu tập, hành giả phải rửa sạch mọi chấp thủ về tự ngã ( cái tôi, cái của tôi và cái tự ngã của tôi) để trở về với tâm thức thanh tịnh, bản nguyên vốn không phân biệt.

Từ đây, cho thấy rằng điểm nhất quán trong giáo lý của Phật Giáo, dầu nguyên thuỷ hay phát triển đều chú trọng đến việc gội sạch tâm tham ái và chấp thủ để đạt đến cảnh giới giải thoát thực tại, đấy là cảnh giới của thực tại Vô Ngã Niết-bàn.

 NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CHIA SẺ CÙNG QUÝ BẰNG HỮU

PHẬT GIÁO LÀ TÔN GIÁO HAY TRIẾT HỌC? TRIẾT LÝ CĂN BẢN CỦA PHẬT GIÁO LÀ GÌ?

PHẬT GIÁO LÀ TÔN GIÁO HAY TRIẾT HỌC? TRIẾT LÝ CĂN BẢN CỦA PHẬT GIÁO LÀ GÌ?
hình-phật-nhang-sạch-thiên-hương
hình-phật-nhang-sạch-thiên-hương

Chào bạn!

Chúng ta cùng tìm hiểu câu hỏi 6 nhé.

6. Phật Giáo là tôn giáo hay triết học?

Câu hỏi rất bao quát. Vì lẽ, trên thế giới có nhiều tôn giáo và nhiều quan niệm khác nhau về Thương Đế; và mỗi tôn giáo đều có chủ trương và học thuyết khác nhau. Tuy nhiên, có thể khái quát các nhóm tôn giáo thế giới (world religions) theo hai đặc tính cơ bản, đó là :

a/ Tôn giáo hữu thần (theistic religions) – tôn giáo tin rằng có sự hiện hữu của một (độc thần giáo) hoặc nhiều (đa thần giáo) vị thần linh như Đấng sáng thế, Thượng Đế, hay Phạm Thiên… sáng tạo và làm chủ đời sống của con người và vạn vật.

b/ Tôn giáo vô thần (non-theistic religions) – tôn giáo không tin rằng các vị Thần Linh sáng tạo, làm chủ và ngự trị cuộc sống của con người và vạn vật.

Trong giới hạn của phần định này, thì Phật giáo là một tôn giáo không có mặt của một Thưỡng đế hữu ngã và độc tôn, nhưng có đầy đủ chức năng của một tôn giáo – theo cách hiểu của ngành tôn giáo học hiện đại, bao gồm: các lĩnh vực khái niệm như ngôn ngữ, kinh điển, biểu tượng; các hình thức nghi lễ, hành trì, tu tập; và các mối liên hệ chặt chẽ với xã hội.

Mặc dù vậy, không ít người, xưa và này, vẫn xem Phật Giáo như một “triết lý sống” hay một “triết lý của sự giác ngộ“; và tất nhiên, điều đó hoàn toàn hợp lý tuỳ theo mỗi cá nhân.

7. Triết lý căn bản của Phật Giáo là gì?

Triết lý căn bản của Phật Giáo được Đức Phật giảng dạy trong pháp thoại đầu tiên của Ngài tại vườn Nai (Lộc uyển) đó là bài Pháp về Bốn chân lý: khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự chấp dứt khổ đau và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau.

Save money when safely celebrex buy online. Compare Celebrex prices and other prescription drug prices from verified online pharmacies. cheap dopoxetine. Pháp thoại tiếp theo bài giảng đầu tiên này, Đức Phật dạy về Vô Ngã tức là không có một ngã tính thường hằng bất biến trong sự hiện hữu của hợp thế năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành và thức); hay nói khác đi, cả thế giới của vật lý và tâm lý đều không có ngã tính thường tại, vĩnh hằng.

Tuy nhiên, bạn cũng nên nhớ rằng trên con đường đi đến giác ngộ, Đức Phật đã thiền quán sâu xa về chân lý Duyên Khởi; và chính trong dòng thiền quán này, Ngài đã giác ngộ toàn triệt và trở thành một vị Phật sau khi chặt đức vòng nhân duyên khổ đau. Do đó, có thể nói triết lý căn bản của Phật Giáo được gói trọn trong các giáo lý : Bốn chân lý, Duyên khởi và vô ngã.

Lời bình: có người nói rằng “đời là bể khổ”. Con người ta từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi luôn cảm thấy khổ đau, bất hạnh, cuộc sống không theo mong muốn của mình. Tuy nhiên, đó là sự tương đối, vì sự mong muốn của mỗi người là khác nhau và chúng ta quá tham vọng, đòi hỏi nhiều thứ. Nếu chúng ta biết chập nhận, biết hưởng thụ những gì mình đang có thì ta luôn cảm thấy hạnh phúc.

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CHIA SẺ CÙNG QUÝ BẰNG HỮU

PHẢI CHĂNG ĐẠO PHẬT CHỦ TRƯƠNG LÌA BỎ THẾ GIAN?

PHẢI CHĂNG ĐẠO PHẬT CHỦ TRƯƠNG LÌA BỎ THẾ GIAN?
phật-thích-ca-nhang-sạch-thiên-hương
phật-thích-ca-nhang-sạch-thiên-hương

5. Phải chăng đạo phật chủ trương lìa bỏ thế gian? Buy Paroxetine online after comparing prices. Order Paxil without a prescription. How much does generic Paxil cost, paroxetine online. Paroxetine Generic Names: Paroxetine (pa ROX a teen) Brand Names: Brisdelle, Paxil, Paxil CR, Pexeva where to buy Paroxetine online. purchase lioresal.

Bạn hãy thận trong với câu hỏi này. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người đã đạt được giác ngộ, giải thoát tối thượng, tức là Ngài đã thực thụ giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi ở độ tuổi trung niên. Thế nhưng Ngài vẫn ở lại thế gian thêm hơn bốn mươi năm nữa để truyền bá Chánh Pháp nhằm đẹm lại lợi ích cho thế gian. Ở đây có hai điểm cần hiểu rõ:

a. Khái niệm giác ngộ (bodhi) trong đạo Phật được hiểu là sự thức tỉnh toàn diện về dòng vận hành của duyên khởi trong đời sống con người, bao gồm cả tâm lý và vật lý. Do năng lực tỉnh thức toàn diện này mà bạn có thể vượt qua các phiền não, nhiểm ô và kiến lập đời sống an lạc, hạnh phúc cho chính mình.

Vả lại năng lực tỉnh thức được chia thành nhiều cấp độ khác nhau từ thấp đến cao. Do vậy, một đời tu tập chưa hẳn đã tao được cho mình một năng lực tỉnh thức toàn diện (giác ngộ chân lý tuyệt đối), vì nó còn tuỳ thuộc vào dòng nghiệp lực trong nhiều đời của mỗi cá thể.

b. Khái niệm giải thoát (moksha – vượt lên trên hay vượt ra khỏi) trong đạo Phật cũng vậy, nó bao hàm nhiều cấp độ khác nhau, từ việc nhỏ đến việc lớn. Khi nào bạn vượt ra hỏi những ràng buộc của các phiền não như tham lam, sân hận, si mê chấp thủ… trong đời sống của chính mình thì khi đó bạn được giải thoát.

Cho đến khi nào tâm thức của bạn hoàn toàn không còn bị chi phối bởi các phiền não đó thì bạn sẽ thực thụ hưởng thụ hương vị giải thoát. Thế nhưng, để đạt được sự giải thoát tối hậu đòi hỏi bạn phải bứng tận góc rễ của các phiền não trong tâm thức của chính bạn một cách toàn triệt, vì chính các phiền não nhiễm ô là cái nhân của sinh tử, luân hồi.

Do vậy, nói khác đi, giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi là giải thoát khỏi các phiền não, nhiễm ô trong đời sống của chính bạn và đó chính là khái niệm “xuất thế” của Đạo Phật. Nên nhớ rằng, để đạt được giải thoát bạn không cần phải đi đâu hết, mà trái lại bạn cần phải tu tập ngay bây giờ và ở đây, ngay nơi con người này và tại thế giới này.

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CHIA SẺ CÙNG QUÝ BẰNG HỮU

TÓM TẮT LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT

TÓM TẮT LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT
phật-thích-ca-nhang-sạch-thiên-hương
phật-thích-ca-nhang-sạch-thiên-hương

3. Tóm tắt về lịch sự Đức Pật

Đạo Phật do Đức Thích Ca Mâu Ni (sakya Muni) sáng lập tại Ấn Độ cách đây hơn 2600 năm. Các nhà sử học hiện đại cho rằng Đức Phật đản sinh vào ngày trăng tròn tháng Vesak vào khoảng năm 625 trước Tây lịch, tại vườn Lumbini (Lâm Tì Ni). Ngài vối là một hoàng tử tên Tất-Đạt-Đa (Siddhar-tha), con trai duy nhất của vua Tịnh Phạn (suddhodana). Khi lớn lên, Ngài đã đính hôn với công chúa Da-Du-Đ-La (Yasodhara) và sinh hạ một nam tử tên là La-Hầu-La (RaHula) nike air max kopen goedkoop.

Sau khi nhận thấy rõ chân tướng khổ đau của kiếp người sinh-lão-bệnh-tử, Ngài đã quyết tâm vượt cung thành để tìm chân lý. Trải qua năm năm tìm thầy học đạo, sáu năm khổ hạnh trong rừng già, sau cùng Ngài đã thành đạo dưới cội Bồ Đề sau 49 ngày thiền định. Kể từ đó, Ngài được gọi là Phật (Buddha) – con người đã giác ngộ, đã thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi.

Sau khi giác ngộ, Ngài đã khởi sự truyền bá Chánh Pháp (Dharma) – giáo lý đưa đến sự giác ngộ, giải thoát – và xây dựng giáo đoàn Tăng già (Sangha) trong  suốt 49 năm. Ngài đã nhập Niết-Bàn vào năm tám mươi tuổi dưới tàn cây Sala, tại Kusinara, vào khoảng năm 543 trước Tây lịch. Save money when safely .Compare Celebrex prices and other prescription drug prices from verified online pharmacies.

4.Yếu tính của Đạo Phật là gì?

Theo truyền thống, Đạo Phật được định nghĩa như sau: Đạo là con đường; Phật là sự giác ngộ, giải thoát tối hậu. Do vậy, yếu tính của Đạo Phật, như chính tên gọi bày tỏ, là con đường đưa đến sự giác ngộ, giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi.

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG CHIA SẺ CÙNG QUÝ BẰNG HỮU